Sáng kiến kinh nghiệm Áp dụng kĩ thuật đặt câu hỏi vào xây dựng câu hỏi cho bài Clo – lớp 10 THPT thuộc chương trình nâng cao

doc 12 trang sk10 19/01/2025 490
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Áp dụng kĩ thuật đặt câu hỏi vào xây dựng câu hỏi cho bài Clo – lớp 10 THPT thuộc chương trình nâng cao", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Áp dụng kĩ thuật đặt câu hỏi vào xây dựng câu hỏi cho bài Clo – lớp 10 THPT thuộc chương trình nâng cao

Sáng kiến kinh nghiệm Áp dụng kĩ thuật đặt câu hỏi vào xây dựng câu hỏi cho bài Clo – lớp 10 THPT thuộc chương trình nâng cao
 A. ĐẶT VẤN ĐỀ
 Trong thời kỳ đổi mới và phát triển cuả đất nước, cùng nằm trong xu thế 
chung của thời đại, ngàng giáo dục nước nhà cũng phát động phong trào thay đổi 
phương pháp dạy học nhằm đáp ứng những nhu cầu mới của xã hội. Phương pháp 
dạy học truyền thống của chúng ta đã tồn tại từ rất lâu, lấy người thầy làm trung 
tâm và có nhiều yếu tố không còn phù hợp với sự năng động của xã hội hiện tại, 
trong các phương pháp dạy học mới vừa kế thừa những điểm mạnh của phương 
pháp truyền thống vừa có những thay đổi để học trò sẽ đóng vai trò trung tâm trong 
quá trình dạy học và khi đó học sinh sẽ chủ động tiếp thu kiến thức. 
 Nhà nước ta cùng với bộ giáo dục đã bỏ ra rất nhiều tiền của và công sức 
nhằm đổi mới phương dạy học vốn đã ăn sâu vào trong tiềm thức của cả thầy và trò 
lâu nay. Lần gần đây nhất là dự án “Việt – Bỉ” được triển khai trong năm học 2011 
- 2012 đã đưa ra các kĩ thuật và phương pháp dạy học tích cực, trong số đó phải kể 
tới một loạt kĩ thuật và phương pháp dạy học tích cực như: kĩ thuậ đặt câu hỏi; kĩ 
thuật khăn phủ bàn; kĩ thuật mảnh ghép; kĩ thuật sơ đồ tư duy; kĩ thuật “KWL’’; kĩ 
thuật học tập hợp tác; kĩ thuật lắng nghe và phản hồi tích cực; phương pháp đặt và 
giải quyết vấn đề; phương pháp dạy học hợp tác; phương pháp dạy học hợp đồng; 
phương pháp dạy học theo góc; phương pháp dạy học theo dự án; phương pháp dạy 
học vi mô. Trong số đó có kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật sơ đồ tư duy cùng với 
phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề là gần với điều kiện thực tế của nước 
ta hơn cả. 
 Trong các giờ học thì hệ thống câu hỏi đóng vai trò quan trọng vì những câu 
hỏi trong một tiết học sẽ giúp học sinh tiếp nhận kiến thức một cách thụ động hay 
chủ động. Từ ngàn xưa tới giờ trong giờ học luôn luôn có những câu hỏi được đưa 
ra, nhưng tại sao trong dự án “Việt – Bỉ” lại trở thành kĩ thuật dạy tích cực. Thật 
vậy trong bất kỳ phương pháp nào, kĩ thuật dạy học nào cũng phải cần có những 
câu hỏi để nêu lên vấn đề cần tìm hiểu, quan trọng hơn là nêu câu hỏi như thế nào 
về vấn đề cần được tìm hiểu để phát huy được tính tích cực của học sinh và để đổi 
mới được phương pháp dạy học, đồng thời kế thừa được những điểm mạnh của 
phương pháp dạy học truyền thống( vì đổi mới không có nghĩa là bỏ đi tất cả). 
 Sau hơn một năm từ lúc được tập huấn về các kĩ thuật và phương pháp dạy 
học tích cực cùng với kinh nghiệm được rút ra trong quá trình giảng dạy tôi lựa 
chọn viết đề tài: “Áp dụng kĩ thuật đặt câu hỏi vào xây dựng câu hỏi cho bài clo – 
lớp 10 – THPT thuộc chương trình nâng cao”. 
 Trong sáng kiến kinh nghiệm này có những nội dung chính sau: 
 A. Đặt vấn đề
 B. Giải quyết vấn đề
 C. Kết luận và đề xuất
 1 II. Thực trạng của vấn đề. 
 Trong thực tế việc bỏ thời gian để soạn thảo ra hệ thống câu hỏi trước khi lên 
lớp đang còn được xem nhẹ vì việc đặt câu hỏi trong từng giờ dạy đó được xem là 
điều đương nhiên và cũng không khó mấy chỉ việc đọc giáo án, nội dung bài học là 
có thể tự đưa ra được câu hỏi cần gì phải mất nhiều thời gian. Nếu suy nghĩ như 
vậy việc đặt câu hỏi cho mỗi bài dạy không mất nhiều thời gian và công sức.
 Vấn đề tưởng trừng như đơn giản vậy nhưng không hề đơn giản chút nào vì 
việc nêu lên câu hỏi như thế nào để đảm bảo được nội dung kiến thức, phù hợp với 
đối tượng học sinh, đồng thời phát huy được tính tích cực, tạo được niềm hứng thú 
cho học sinh trong quá trình tìm tòi, phát hiện kiến thức, đặc biệt là cân đối độ khó 
dễ của câu hỏi, phần nào nên có những câu hỏi khó, phần nào cần có những câu hỏi 
dễ, khi nào thì nên dùng câu hỏi đóng, khi nào nên dùng câu hỏi mở.
 Trong các tiết dạy đôi khi giáo viên đưa ra những câu hỏi khó, rồi sau đó 
phải tự trả lời hay đưa ra câu hỏi sau đó lại gợi ý quá nhiều khiến cho học sinh 
không phát huy đươc khả năng tự khám phá, tính độc lập suy nghĩ như vậy đã hạn 
chế khả năng tự học của học sinh. Hay trong các tiết học giáo viên đưa ra quá nhiều 
câu hỏi vụn vặt, cùng một nội dung nhưng giáo viên lại đưa ra nhiều câu hỏi nhỏ, 
làm như vậy có thể học sinh cảm thấy dễ hiểu hơn nhưng lại có một tác hại là 
không hệ thống hóa được kiến thức một cách logic và không phát được khả năng tư 
duy của học sinh. Hay chỉ đưa ra những câu hỏi mà học sinh không cần phải suy 
nghĩ sâu mà vẫn trả lời được như vậy sẽ tạo cho học sinh cảm giác cái gì cũng biết 
nên không chịu tìm tòi để học hỏi thêm. Hay khi giáo viên vừa đọc xong câu hỏi đã 
gọi ngay học sinh lên trả lời, nhằm tránh tình huống “cháy” giáo án trong các bài 
mà nội dung kiến thức dài.
 Do đặc thù của môn hóa là môn học thực nghiệm và điều kiện cơ sở vật chất 
của các phòng thí nghiệm đang còn hạn chế nên việc kiểm nghiệm lại những kiến 
thức lý thuyết vừa được học cũng còn chưa được thực hiện đầy đủ. Bên cạnh đó 
những kiến thức thuộc các phần tính chất vật lý hay phần điều chế thường được để 
học sinh tự học và chấp nhận những nội dung sách giáo khoa đưa ra nên phần này 
thường được giáo viên đặt câu hỏi là các em hãy nghiên cứu sách giáo khoa hãy 
cho biết tính chất vật lý của một chất nào đó. Còn phần tính chất hóa học thường 
được giáo viên gọi học sinh lên bảng viết phản ứng rồi nhận xét vai trò của các chất 
trong các phản ứng đó, phương pháp này sẽ phù hợp với học sinh trung bình và 
yếu, còn sẽ hạn chế cho sự phát triển nhận thức và tư duy của học sinh khá giỏi. 
 Trước thời điểm tập huấn về các kĩ thuật và phương dạy học tích cực cách 
đặt câu hỏi trong giờ dạy được coi là việc rất bình thường, đương nhiên phải có, 
chưa được gọi là một kĩ thuật dạy học tích cực. Việc xây dựng hệ thống câu hỏi với 
số lượng bao nhiêu, nội dung câu hỏi, độ khó, dễ của câu hỏi trong một tiết học 
cũng chưa được đầu tư về thời gian và công sức. 
 3 III.2. Tổ chức thực hiện.
 Trong thời lượng nhất định và với trình độ nhận thức của các lớp tôi đang 
dạy trong năm học vừa qua, tôi áp dụng kĩ thuật đặt câu hỏi vào xây dựng hệ thống 
câu hỏi cho bài: “CLo” của môn Hóa lớp 10 đối với học sinh học chương trình 
nâng cao.
 1. Xác định trọng tâm của bài dạy:
 Đối với bài Clo thuộc chương trình lớp 10 – Nâng cao. Trong phân phối 
chương trình thì bài này được chia làm hai tiết dạy, với kinh nghiệm đi dạy của tôi 
thì tôi gắt bài như sau: Tiết 1 đến hết phần tác dụng với nước và với dung dịch 
kiềm. Tiết 2 là phần còn lại của bài. Kiến thức trọng tâm của cả bài là học sinh phải 
nắm được tính chất vật lý, tính chất hóc học đặc trưng và cách điều chế Clo và tầm 
quan trọng của clo đối với cuộc sống, đặc biệt là nắm được các phản ứng chứng 
minh tính chất hóa học của clo. Kỹ năng cần đạt được là viết thạo các phản ứng và 
sử dụng lý thuyết để làm bài tập thực nghiệm
 2. Xây dựng hệ thống câu hỏi
 Tính chất vật lý.
 Có thể đưa ra hai câu hỏi sau:
Câu 1a. Hãy cho biết tính chất vật lý của clo? 
Câu 1b. Có một bình chứa đầy Clo, có thể mở nắp bình hay không? Khi mở nắp 
bình có ảnh hưởng như thế nào tới sức khỏe? Dẫn lượng khí clo này qua nước có 
lẫn quỳ tím thì có hiện tượng gì? Giải thích?
 Phân loại hai câu hỏi trên: 
Câu 1a thuộc mức độ biết vì phần này đã học trong bài khái quát về nhóm halogen. 
Câu 1b. thuộc mức độ hiểu vì học sinh phải đọc hết phần tính chất vật lý và suy 
nghỉ rồi mới trả lời được câu hỏi.
 Tính chất hoá học. Các câu hỏi dùng trong tiết 1 của bài clo.
Câu 2. Nguyên tố Clo có những trạng thái số oxi hoá nào? Từ đó hãy dự đoán tính 
chất hoá học của Cl2? Khi nào thì Cl2 thể hiện tính chất đó?
Câu 3. Clo phản ứng với kim loại và H2 như thế nào? Viết phản ứng minh họa?
Câu 4. Hãy cho biết khả năng phản ứng của clo với nước và dung dịch kiềm? Viết 
phản ứng minh họa?
Câu 5. Tìm ô chữ (thực hiện vào phần cũng cố bài khi hết tiết1) trong cột dọc dựa 
vào các dữ kiện sau: 
 (1)
 (2)
 (3)
 (4)
 (5)
 (6)
 5 - Đối với những câu trả lời đúng, cần phải khen gợi và khẳng định là học sinh 
 đã trả lời đúng. Đối với những câu trả lời sai thì không nên vội vàng kết luận 
 là sai mà nên nhờ một học khác nhận xét câu trả lời, chỉ rõ bạn sai chỗ nào, 
 đúng chỗ nào, bổ sung như thế nào?
 4. Phương án sử dụng câu hỏi vào bài clo – lớp 10 – chương trình nâng cao. 
 4.1. Phần tính chất vật lý: có thể sử dụng một trong hai câu hỏi 1a hoặc 1b. 
Nhưng dùng câu 1a thì vừa kiểm tra được kiến thức đã học của học sinh đồng thời 
tận dụng được thời gian cho phần sau, câu 1b có thể để kiểm tra miệng vào tiết sau.
 4.2. Phần tính chất hoá học. 
Câu 2. Giáo viên sẽ nêu bằng lời cho học sinh nghe và nghiên cứu trả lời rồi nhận 
xét ý kiến của học sinh, tổng hợp ý kiến đó thành sơ đồ. 
Câu 3. Giáo viên cũng nêu bằng lời, cho học sinh suy nghỉ và trả lời câu hỏi này 
(trong vòng 7 phút) bằng cách lên bảng viết câu trả lời. Sau khi nhận xét xong câu 
hỏi giáo viên có thể bổ sung thêm câu hỏi sau (thuộc mức độ vận dụng). 
 Câu hỏi phụ 1: Cho 16,8 gam kim loại M tác dụng với Clo dư khi đun nóng 
thu được 48,75 gam muối. Xác định kim loại M?. 
 Câu hỏi phụ 2: Cl2 có khả năng tác dụng với C, P, S hay không? Vì sao?
Câu 4. ở câu này giáo viên sẽ bổ sung thêm điều kiện phản ứng đó là khi đun nóng. 
Câu 5. Dùng mày chiếu dùng để hoàn thành câu hỏi củng cố nội dung của tiết 1.
Câu 6. Dùng máy chiếu để học sinh quan sát các thí nghiệm ảo. sau đó trả lời câu 
hỏi 6. ở câu này giáo viên phát phiếu học tập cho học sinh.
Câu 7. Dùng phiếu học tập để học sinh tự trả lời sau đó giáo viên nhận xét.
 4.3. Điều chế và ứng dụng.
Câu 8 và câu 9 dùng chung một phiếu học tập. Giáo viên cho học sinh tự lên bảng 
trình bày. rồi nhận xét. 
 Sau đó giáo viên giao cho học sinh một bài tập về nhà: vẽ sơ đồ tổng hợp 
tính chất vật lý, tính chất hoá học, điều chế của bài Clo. Hôm sau mang nộp cho cô 
giáo.
IV. Kiểm nghiệm thực tế của đề tài. 
 Sau khi thực hiện hệ thống câu hỏi trên ở hai lớp 10B 1 và 10B2 trong đó lớp 
10B2 đứng sau lớp 10B1 tôi phát phiếu thăm dò học sinh và thu được kết quả của đề 
tài như sau:
 Kết quả phiếu thăm dò số 1. Đánh giá câu hỏi
 Mức độ
 Dễ Trung bình khó
lớp 
 Câu 1a, câu 2 Câu 2,3,4,6,8,9 Câu 7 và hai câu hỏi 
 10B
 1 phụ của câu 3
 Câu 1a, câu 2 Câu 2,3,4,9 Câu 7 và câu hỏi phụ 
 10B
 2 của câu 3, câu 6,8
 7 C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.
I. Kết luận
 Qua thực tế giảng dạy và trong quá trình viết sáng kiến kinh nghiệm này tôi 
rút ra được một số kết luận như sau: 
 Việc đầu tư thời gian và công sức ra để xây dựng câu hỏi cho mỗi bài học là 
 rất cần thiết và quan trọng vì nó sẽ quyết định tới sự thành công của tiết học 
 và phát triển tư duy nhận thức của học sinh.
 Trước khi xây dựng hệ thống câu hỏi phải nghiên cứu kỹ trọng tâm của bài 
 và nội dung của bài học. 
 Với hệ thống câu hỏi vừa với trình độ nhận thức của học sinh sẽ không khiến 
 học sinh thấy chán nản vì khó hiểu và khó tiếp thu kiến thức.
 Khi xây dựng câu hỏi cần phân loại câu hỏi theo mức độ nhận thức: Biết, 
 hiểu, vận dụng. Tuy nhiên trong một bài học phải cân đối số lượng câu hỏi 
 biết, hiểu, vận dụng sao cho hợp lý, với kinh nghiệm còn ít của tôi cùng với 
 khả năng nhận thức của học sinh tôi đang dạy thì trong một tiết dạy tôi 
 thường sử dụng 2 câu hỏi ở mức độ biết thuộc vào phần tính chất vật lý và 
 phần nhận xét chung của tính chất hoá học (phần đầu của tính chất hoá học). 
 2 câu hỏi ở mức độ hiểu và 1 câu hỏi ở mức độ vận dụng thuộc phần tính 
 chất hoá học, điều chế, ứng dụng. 
 Cân đối thời gian sử dụng mỗi câu hỏi. 
 Khi sử dụng câu hỏi cần cho nhiều học sinh tham gia trả lời cùng một câu 
 hỏi kể cả khi em đầu tiên trả lời đúng. Giáo viên chủ động gọi hỏi ý kiến của 
 cả những học sinh không xung phong và học chậm hơn các bạn xung phong.
 Người giáo viên sẽ đóng vai trò hướng dẫn học sinh tìm hiểu lần lượt nội 
 dung của bài một cách trình tự có logic dựa vào những câu hỏi đặt ra, đặc 
 biệt phải tổ chức làm sao cho số lượng học sinh tham gia trả lời câu hỏi là 
 nhiều nhất có thể. 
II. Đề xuất
 Qua nội dung của sáng kiến kinh nghiệm tôi xin đưa ra các đề xuất sau:
 ➢ Thứ nhất: Tuỳ thuộc vào từng giáo viên mà khi dạy chúng ta sẽ đưa ra những 
 câu hỏi khác nhau vì vậy trong các cuộc họp tổ chuyên môn, các thành viên 
 cùng nhóm chuyên môn cùng nhau thảo luận xây dựng nên hệ thống câu hỏi 
 cho một bài nào đó và phương án sử dụng câu hỏi trong bài, rồi dần dần sẽ 
 xây dựng được hệ thống câu hỏi cho từng chương, từng khối, từng ban, với 
 mục đích cuối cùng nhằm nâng cao chất lượng học của học sinh mình dạy. 
 Khi tham gia xây dựng nên hệ thông câu hỏi mỗi giáo viên cũng sẽ học hỏi ở 
 đồng nghiệp về chuyên môn, cùng nhau bồi dưỡng chuyên môn.
 ➢ Thứ hai: Trước khi lên lớp mỗi giáo viên xây dựng nên một hệ thống câu hỏi 
 và phân loại chúng theo mức độ nhận thức biết, hiểu, vận dụng. 
 9

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_ap_dung_ki_thuat_dat_cau_hoi_vao_xay_d.doc