Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới phương pháp dạy học bài 7 “Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức”, Giáo dục công dân lớp 10

doc 47 trang sk10 26/01/2025 430
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới phương pháp dạy học bài 7 “Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức”, Giáo dục công dân lớp 10", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới phương pháp dạy học bài 7 “Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức”, Giáo dục công dân lớp 10

Sáng kiến kinh nghiệm Đổi mới phương pháp dạy học bài 7 “Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức”, Giáo dục công dân lớp 10
 BÁO CÁO KẾT QUẢ
 NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: Đổi mới phương pháp dạy học bài 7 “Thực tiễn và 
 vai trò của thực tiễn đối với nhận thức”, GDCD lớp 10
 Vĩnh Phúc, 2020 6. Những thông tin cần bảo mật...39
7. Các điều kiện cần thiết áp dụng sáng kiến.......39
8. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến...39
9. Đánh giá lợi ích thu được ... ý kiến tác giả...40
10. Đánh giá lợi ích thu được ý kiến các tổ chức, cá nhân.40
11. Danh sách các tổ chức, cá nhân.40 BÁO CÁO KẾT QUẢ
 NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
 1. LỜI GIỚI THIỆU 
 Đất nước ta đã và đang trên đà phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa, thế 
giới bước vào thời kì 4.0 với những công nghệ vô cùng hiện đại. Vì vậy vấn đề chất 
lượng nguồn lực con người là vấn đề rất cần được quan tâm. Đổi mới phương pháp 
giảng dạy là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục nhằm nâng 
cao chất lượng giáo dục và đào tạo, là sự sống còn của mỗi cơ sở đào tạo.
 Phương pháp giảng dạy là yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến 
chất lượng đào tạo. Phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện 
để giáo viên và người học phát huy hết khả năng của mình trong việc truyền đạt, 
lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy. Phương pháp giảng dạy khoa học sẽ làm 
thay đổi vai trò của người thầy đồng thời tạo nên sự hứng thú, say mê và sáng 
tạo của người học.
 Phương pháp giảng dạy truyền thống là phương pháp mà trong đó chủ 
yếu là thầy nói - trò nghe. Ngay tận thập niên 1990, phương pháp này vẫn đang 
chi phối mạnh ở các trường trong cả nước. Học sinh thường phải ngồi nghe liên 
tục trong một khoảng thời gian dài. Trong phương pháp này, giáo viên dạy và 
học sinh được dạy; giáo viên biết mọi thứ và học sinh không biết gì; giáo viên 
suy nghĩ và học sinh buộc phải nghĩ theo cách của giáo viên; giáo viên nói và 
học sinh lắng nghe; giáo viên quyết định (chọn lựa) và học sinh phải làm theo. 
Nhìn chung, giáo viên là chủ thể còn học sinh là khách thể của quá trình dạy - 
học. Giáo viên quan tâm trước hết đến việc truyền đạt kiến thức, hướng đến mục 
tiêu làm cho học sinh hiểu và ghi nhớ kiến thức. Phương pháp này ít quan tâm 
đến việc phát triển tư duy, huấn luyện kỹ năng và rèn luyện thái độ cho người 
học. Nó dẫn đến tình trạng hầu hết học sinh học tập thụ động. Hậu quả của 
phương pháp giảng dạy cũ dẫn đến sự thụ động của người học trong việc tiếp 
cận tri thức. Sự thụ động này là nguyên nhân tạo cho người học sự trì trệ, ngại 
đọc tài liệu, ngại tranh luận, thiếu khả năng thuyết trình, lười tư duy và thiếu 
tính sáng tạo trong tư duy khoa học. Người học còn quan niệm rằng chỉ cần học 
những gì giáo viên giảng trên lớp là đủ. Ngoài ra sự thụ động của họ còn thể 
hiện qua phản ứng của họ đối với bài giảng của giáo viên trên lớp. Họ chấp nhận 
tất cả những gì giáo viên trình bày. Sự giao tiếp trao đổi thông tin trong lớp học 
hầu như chỉ mang tính một chiều.
 1 hình thành thế giới quan, phương pháp luận của cá nhân. Do yêu cầu nâng cao chất 
lượng giảng dạy, chất lượng học tập của học sinh, sở giáo dục đào tạo Vĩnh Phúc 
kiểm tra học kì theo đề chung của sở và thực hiện chuẩn quy chế coi thi nên cần 
tiếp thu kiến thức một cách thực sự.
 Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: Đổi mới phương pháp 
dạy học bài 7 “thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức”, GDCD lớp 10. 
Để góp phần thực hiện yêu cầu đổi mới nội dung và PPDH theo hướng phát triển năng 
lực và phẩm chất của học sinh,phát huy tính tích cực học tập của HS.
 2. TÊN SÁNG KIẾN 
 Đổi mới phương pháp dạy học bài 7 “Thực tiễn và vai trò của thực tiễn 
đối với nhận thức”, GDCD lớp 10. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng 
phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh trong bài “Thực tiễn và vai trò 
của thực tiễn đối với nhận thức”, GDCD lớp 10.
 3. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN 
 - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Đổi mới phương pháp dạy học bài 7 “thực 
tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức”, GDCD lớp 10.
 - Vấn đề mà sáng kiến giải quyết: Đổi mới phương pháp dạy học bài 7 
“Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức”, GDCD lớp 10.
 4. NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU HOẶC ÁP DỤNG THỬ 
 Tháng 8 năm 2019
 5. MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN 
 5.1. Mục đích nghiên cứu 
 - Nghiên cứu và áp dụng vào thực tế giảng dạy trên lớp trong bài 7 “Thực 
tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức”.
 - Nghiên cứu đề tài khẳng định Đổi mới phương pháp dạy học bài 7 “Thực tiễn và 
vai trò của thực tiễn đối với nhận thức”, GDCD lớp 10 - là một hướng tiếp cận hiệu 
quả trong việc dạy bài 7 “Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức” môn 
GDCD lớp 10.
 5.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 
 Bài nghiên cứu đã được triển khai với học sinh của lớp 10 qua năm học 2018 - 2019, 
2019 - 2020.
 3 Áp dụng sáng kiến này học sinh học bài 7 “Thực tiễn và vai trò của thực tiễn 
đối với nhận thức” sẽ tích cực chủ động và hứng thú hơn trong tiếp thu kiến thức.
 5.6. Về nội dung của sáng kiến
 5.6.1. Cơ sở lí luận
 5.6.1.1. Phương pháp dạy học tích cực
 Phương pháp dạy học (PPDH) là lĩnh vực rất phức tạp và đa dạng. Có nhiều 
quan niệm, quan điểm khác nhau về PPDH. PPDH được hiểu là cách thức, là con 
đường hoạt động chung giữa GV và HS, trong những điều kiện dạy học xác định, 
nhằm đạt tới mục đích dạy học.
 Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, 
được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng 
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. “Tích cực” trong PPDH 
- tích cực được dùng với tức là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt 
động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực.
 PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận 
thức của người học, tức là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ 
không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy 
học theo phương pháp tích cực thì thầy giáo phải nỗ lực nhiều so với dạy theo 
phương pháp thụ động.
 Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách học, 
nhưng trái lại thói thường học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy. 
Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng thầy 
giáo chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp thầy giáo tích cực vận dụng PPDH 
tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích nghi, vẫn quen với lối học 
tập thụ động. Vì thế, thầy giáo phải bền chí dùng cách dạy hoạt động để dần dần 
xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp 
lên cao. Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, 
sự phối hợp ăn nhịp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công. Như vậy, 
việc dùng thuật ngữ “Dạy và học tích cực” để phân biệt với “Dạy và học thụ động”.
 Trên thực tiễn, trong qúa trình dạy học người học vừa là đối tượng của 
hoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học. Phê chuẩn hoạt động học, 
dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải hăng hái chủ động cải biến chính mình 
về tri thức, năng lực, thái độ hoài nghi, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay 
 5 biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề tự học ngay trong 
trường phổ thông, không chỉ tự học ở hậu đường bài lên lớp mà tự học cả trong 
tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên.
 * Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
 Trong một lớp học mà kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều 
tuyệt đối thì khi vận dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp thuận sự phân 
hóa về cường độ, tiến độ hoàn tất nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được 
thiết kế thành một xâu công việc độc lập. 
 Áp dụng biện pháp tích cực càng cao thì sự phân hóa này càng lớn. Việc 
sử dụng các phương tiện công nghệ thông cáo trong nhà trường sẽ đáp ứng đề 
nghị cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh.
 Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi kiến thức, tài năng, thái độ hoài 
nghi đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là 
môi trường tiếp xúc với nhau thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác 
giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung tri thức. Phê duyệt đàm 
luận, tranh luận trong tập thể, quan điểm mỗi cá nhân được thổ lộ, tự tin tuyên 
bố hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học ứng 
dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo.
 * Kết hợp đánh giá thầy với tự đánh giá của trò trong quá trình dạy học tích cực.
 Trong dạy học, việc đánh giá học trò không chỉ nhằm mục đích nhận định 
thực trạng và sắp xếp hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo hoàn cảnh 
nhận định thực trạng và sắp xếp hoạt động dạy của thầy.
 Trước đây, giáo viên giữ độc quyền đánh giá học trò. Trong phương pháp 
tích cực, giáo viên phải chỉ dẫn học trò phát triển tài năng tự đánh giá để tự sắp 
xếp cách học. Liên tưởng với điều này, giáo viên cần tạo hoàn cảnh thuận tiện 
để học trò được tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và sắp xếp hoạt 
động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà 
trường phải trang bị cho học sinh. Theo hướng phát triển các phương pháp tích 
cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, 
thì việc kiểm tra, đánh giá chẳng thể dừng lại ở tái hiện các tri thức, lặp lại các 
tài năng đã học mà phải xứng đáng được đề nghị hoặc đề xuất trí sáng ý, óc sáng 
tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế.
 7 của HS.
 - Tình huống thực tiễn, bối cảnh và môi 
 trường địa phương.
 - Những vấn đề học trò quan tâm.
 biện Các biện pháp diễn Các biện pháp tìm tòi, điều tra, giải quyết 
 pháp giảng, truyền thụ tri thức vấn đề; dạy học tương tác.
 một chiều.
 Hình Cố định: giới hạn trong 4 Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ở phòng thử 
 thức tổ bức tường của lớp học, nghiệm, ở hiện trường, trong thực tế , học 
 chức giáo viên đối diện với cả cá nhân chủ nghĩa, học đôi bạn, học theo cả 
 lớp. nhóm, cả lớp đối diện với giáo viên.
 Một số phương pháp dạy học tích cực phổ quát
 * Phương pháp vấn đáp
 Vấn đáp (đàm thoại) là biện pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh 
trả lời, hoặc học sinh có thể bàn cãi với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh 
lĩnh hội được nội dung bài học. Chứng cứ vào thuộc tính hoạt động nhận thức, người 
ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp.
 * Phương pháp đặt vấn đề và giải quyết vấn đề
 Trong một tầng lớp đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh 
tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong 
thực tế là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, đặc biệt trong 
kinh doanh. Vì thế, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết 
những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, nhà ở và 
cộng đồng không chỉ cố ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt 
như một mục tiêu giáo dục và đào tạo. 
 Trong dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, học trò vừa 
nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát 
triển tư duy hăng hái, sáng tạo, được để sẵn một năng lực thích ứng với đời sống 
xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề phát sinh.
 * Phương pháp hoạt động nhóm
 Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Tuỳ mục đích, nội dung 
của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia không hẹn hay có chủ tâm, được duy trì yên 
 9

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_doi_moi_phuong_phap_day_hoc_bai_7_thuc.doc