Sáng kiến kinh nghiệm Suy ngẫm về chữ “nhàn” và quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ “Nhàn” - Sách giáo khoa Ngữ văn 10 – tập 1

doc 17 trang sk10 09/01/2025 610
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Suy ngẫm về chữ “nhàn” và quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ “Nhàn” - Sách giáo khoa Ngữ văn 10 – tập 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Suy ngẫm về chữ “nhàn” và quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ “Nhàn” - Sách giáo khoa Ngữ văn 10 – tập 1

Sáng kiến kinh nghiệm Suy ngẫm về chữ “nhàn” và quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ “Nhàn” - Sách giáo khoa Ngữ văn 10 – tập 1
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
 TRUNG TÂM GDTX - DN HOẰNG HOÁ
 
 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
 ĐỀ TÀI:
SUY NGẪM VỀ CHỮ “NHÀN” VÀ QUAN NIỆM SỐNG 
 NHÀN CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM QUA BÀI THƠ 
 “NHÀN”- SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 – TẬP 1
 Người thực hiện: Lê Thị Hiền
 Chức vụ: Giáo viên
 SKKN môn: Ngữ Văn
 THANH HOÁ NĂM 2014 Giáo viên: Lê Thị Hiền – Trung tâm GDTX – DN Hoằng Hóa
3. Phạm vi nghiên cứu: 
Đề tài được gói gọn trong những biểu hiện của chữ “nhàn” và quan niệm sống nhàn 
của Nguyễn Bỉnh Khiêm nên bài viết tập trung nghiên cứu chủ yếu bài thơ “Nhàn” 
và nghiên cứu phần thơ Nôm. Đó là những sáng tác biểu hiện cô đọng và nhiều 
nhất quan niệm về chữ “nhàn” và lối sống nhàn dật của Trạng Trình – Nguyễn 
Bỉnh Khiêm.
4. Các phương pháp nghiên cứu.
 Do đặc điểm riêng của bộ môn nên bài viết này sử dụng các phương pháp chính 
để nghiên cứu gồm: Phương pháp đọc, xử lý và nghiên cứu tài liệu, phương pháp 
phân tích - tổng hợp.
 Trang 2 Giáo viên: Lê Thị Hiền – Trung tâm GDTX – DN Hoằng Hóa
 2. Ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang (Đạo giáo)
 Phái Lão Trang chủ trương “thanh tĩnh vô vi” nghĩa là tuyệt hết cái bụng 
nghỉ ngơi ham muốn, không hành động gì cả, cứ phó mặc cho cuộc đời biến 
chuyển theo lẽ tự nhiên. Con người không phải lo lắng, tranh đua, nhọc trí nhọc sức 
cốt để cho tâm hồn được thảnh thơi nhàn hạ. Sỡ dĩ con người đau khổ là vì dục 
vọng xui khiến con người suy nghĩ và hành động . Muốn sống hạnh phúc an nhàn 
ta phải gạt bỏ những tham dục như: danh lợi, tiền bạc. Bàn về lẽ Sinh-Lão-Bệnh-
Tử, Lão Tử cho rằng sống chết là việc thường, có thịnh ắt có suy, có sống ắt có 
chết, có sướng ắt có khổ.... Tất cả muôn loài phải tuân theo sự biến hóa của vũ trụ. 
Sống ở đời bậc chân nhân là kẻ có thái độ điềm đạm, dửng dưng với tất cả mọi sự 
xung quanh mình, luôn luôn giữ cho lòng thanh thản bình lặng dẫu cuộc đời có 
nhiều sóng gió.
 Như vậy tinh thần chính của tư tưởng Lão Trang là “tự nhiên vô vi”, xuất thế, 
sống cuộc đời an nhiên tự tại như các vị tiên-thánh. Tư tưởng này quả là cứu cánh 
cho các bậc chân Nho khi không còn đắc ý hành đạo nữa. Tư tưởng Lão Trang kêu 
gọi rời bỏ xã hội hòa đồng với tự nhiên để cầu sự an tĩnh. Điều này đã có sức hút 
mãnh liệt đối với một bộ phận nhà Nho để mong quên đi nỗi đau trần thế. Trong 
khi về ở ẩn họ thường làm thơ ca gợi cảnh thanh nhàn. Ta bắt gặp rất nhiều bài thơ 
của Nguyễn Bỉnh Khiêm nói lên tinh thần này. Như vậy thực chất quan niệm về 
chữ “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm có quan hệ mật thiết, tác động qua lại giữa đối 
với tư tưởng Nho giáo và Lão Trang.
 3. Chữ “nhàn” đặt trong quan hệ với tư tưởng Nho - Lão của Nguyễn Bỉnh 
Khiêm.
 Qua khảo sát thơ văn Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tôi thấy “nhàn” là sự 
kết hợp của tư tưởng Nho giáo và Lão Trang. Cũng như quan niệm của một số nhà 
thơ trung đại khác, “nhàn” chính là thời gian của thi gia, là khoảng thời gian yên 
tĩnh sống ngoài cõi tục, xa lánh mọi bon chen danh lợi. “Nhàn” chính là phong thái 
ung dung tự tại, an nhiên con người được sống thoáng đạt tự do, không bị những 
cám dỗ dục vọng của cuộc đời làm cho hao tâm suy nghĩ. “Nhàn” chính là nhàn 
tâm, nhàn việc, nhàn công thảnh thơi tâm hồn, sống cuộc đời ẩn dật tránh tranh 
đua cùng thế gian.
 Trang 4 Giáo viên: Lê Thị Hiền – Trung tâm GDTX – DN Hoằng Hóa
b. Sự nghiệp:
 Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn của dân tộc. Ông để lại tập thơ:Tập thơ 
chữ Hán: Bạch Vân am thi tập (khoảng 700 bài ).Tập thơ chữ Nôm: Bạch Vân quốc 
ngữ thi (khoảng trên 170 bài ).
 Nội dung : mang đậm triết lí giáo huấn, ngợi ca chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, 
đồng thời phê phán những điều xấu xa trong xã hội.
 2. Bài thơ “Nhàn” 
 Xuất xứ : Trích “Bạch Vân quốc ngữ thi”. Bài thơ nằm trong chủ đề nhàn - 
một chủ đề lớn của thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
 Nhan đề do người đời sau đặt nhưng cũng là một sự tri ân với nhà thơ. Chữ 
nhàn trong bài nhằm chỉ một quan niệm, một cách xử thế.
3. Đọc – hiểu
a. Đọc – tìm bố cục bài thơ.
 Về cách đọc: Giáo viên đọc mẫu rồi hướng dẫn HS đọc: đọc toàn bài thơ các em 
đọc nhẹ nhàng, thong thả, hóm hỉnh khi đọc hai câu 3 và 4, thanh thản thoải mái 
khi đọc bốn câu cuối.
 Bố cục bài thơ: Sau khi đọc xong giáo viên nhận xét và hướng dẫn HS tìm hiểu 
bố cục bài thơ.
 Ngoài cách phân tích truyền thống là hai câu đề, hai câu thực, hai câu luận, hai 
câu kết ở bài thơ này chúng ta còn có hướng tiếp cận mới đó là: 
 + Tìm hiểu vẻ đẹp cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua câu 1,2 và 5,6.
 + Vẻ đẹp trí tuệ và nhân cách cảu Nguyễn Bỉnh Khiêm qua câu 3,4 và 7,8.
b. Đọc – tìm hiểu giá trị nội dung
* Vẻ đẹp cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm
 Phần này giáo viên tập trung hướng dẫn học sinh khai thác nghệ thuật ở câu 
1,2 và 5,6 để toát lên vẻ đẹp trong quan niệm và cách sống “nhàn” của nhà thơ.
 “Một mai, một cuốc, một cần câu
 Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”.
 Trang 6 Giáo viên: Lê Thị Hiền – Trung tâm GDTX – DN Hoằng Hóa
 Sau khi cho học sinh khai thác ngôn từ của câu thơ giáo viên phải hướng dẫn 
cho các em chốt lại được: cuộc sống của bậc đaị ẩn am Bạch Vân đạm bạc mà 
không khắc khổ, đạm đi với thanh. Cuộc sống thanh cao trong sự trở về với thiên 
nhiên mùa nào thức ấy.
 Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của một thiên nhiên hào 
phóng bằng một tấm lòng hoà hợp với tự nhiên. Tận hưởng lộc từ thiên nhiên bốn 
mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí đất trời để gột 
rửa bao lo toan vướng bận riêng tư . Cuộc sống ấy mang dấu ấn lánh đời thoát tục, 
tiêu biểu cho quan niệm “ độc thiện kỳ thân” của các nhà nho. Đồng thời có nét gần 
gũi với triết lí “vô vi” của đạo Lão, “ thoát tục” của đạo Phật. Nhưng gạt sang một 
bên những triết lí siêu hình, ta nhận ra con người nghệ sĩ đích thực của Nguyễn 
Bỉnh Khiêm, hoà hợp với tự nhiên một cách sang trọng bằng tất cả cái hồn nhiên 
trong sạch của lòng mình.
 Để gây hứng thú cho học sinh tôi đã liên hệ và đọc cho học sinh nghe một vài 
bài thơ khác của Nguyễn Bỉnh Khiêm làm bằng thơ Nôm khi ông bộc lộ quan niệm 
sống “nhàn” này.
 “ Xóm tự nhiên lều một căn
 Qua ngày qua tháng lo là nhiều
 Gió cuốn rèm thay chổi quét
 Trăng cài cửa kéo đèn treo
 Cơm ăn chẳng quản dưa muối
 Áo mặc nài chi gấm thêu
 Tựa gốc cây ngồi hóng mát
 Đìu hiu ta hãy một đìu hiu”
 (Thơ Nôm)
 Đến với phần trọng tâm, điểm mấu chốt nhãn tự của bài thơ, người thầy nên 
có phần dẫn ý để nối tiếp sự hứng thú thăng hoa của học sinh khi tiếp cận với nội 
dung thứ 2 của bài thơ.
 Trong giai đoạn Nguyễn Bỉnh Khiêm sống, thơ văn viết về chữ “nhàn” cũng 
khá nhiều. Các Nho sỹ thất thời như Nguyễn Bỉnh Khiêm rút lui về chờ thời, họ 
làm thơ ca ngợi cuộc sống ẩn dật. Con đường đi đến cuộc sống ẩn dật có nhiều 
nguyên nhân, do họ bất mãn với chế độ, không được trọng dụng, lại có người lui 
 Trang 8 Giáo viên: Lê Thị Hiền – Trung tâm GDTX – DN Hoằng Hóa
 Khôn được ích mình đừng để dại
 Dại thời giữ phận chớ tranh khôn
 Khôn mà hiểm độc là khôn dại
 Dại vốn hiền lành ấy dại khôn”
 (Dại khôn- Nguyễn Bỉnh Khiêm)
 Quan niệm dại, khôn ở Nguyễn Bỉnh Khiêm có phần xuất phát từ trí tuệ, triết 
lí dân gian: “Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác.”
 Sau khi hướng dẫn học sinh hiểu nội dung qua cách khai thác nghệ thuật ở 
câu 3,4 giáo viên phải tiếp tục hướng các em lái con thuyền cảm thụ vẻ đẹp tâm 
hồn cụ Trạng Trình qua hai câu thơ cuối bài. 
 “ Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống
 Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”
 Hai câu thơ cuối bài quan niệm về chữ Nhàn của nhà thơ được phát triển trọn 
vẹn bằng sự khẳng định .
 Mượn điển tích một cách rất tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói lên thái độ 
sống dứt khoát đoạn tuyệt với công danh phú quý. Quan niệm ấy vốn dĩ gắn với 
đạo Lão – Trang, có phần yếm thế tiêu cực, nhưng đặt trong thời đại nhà thơ đang 
sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực. Cuộc sống của những kẻ chạy theo công danh phú 
quý vốn dĩ ông căm ghét và lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của 
mình :
 Ở thế mới hay người bạc ác
 Giàu thì tìm đến, khó thì lui
 (Thói đời)
 Phú quý đi với chức quyền đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của 
bọn người bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống. Bọn chúng là bầy chuột 
lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và lên án trong bài thơ Tăng 
thử (Ghét chuột) của mình. Bởi thế, có thể hiểu thái độ “Nhìn xem phú quý tựa 
chiêm bao” cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ với 
nhân dân. Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao của người bình dân đáng quý đáng 
trọng vì đem lại sự thanh thản cũng như giữ cho nhân cách không bị hoen ố vẩn 
đục trong xã hội chạy theo thế lực kim tiền. Cội nguồn triết lí của Nguyễn Bỉnh 
Khiêm gắn liền với quan niệm sống lành mạnh, bền vững tốt đẹp của nhân dân.
 Trang 10 Giáo viên: Lê Thị Hiền – Trung tâm GDTX – DN Hoằng Hóa
5. Đánh giá chữ “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm .
 Văn học Trung Quốc cổ cũng như văn học trung đại Việt Nam thường nói đến 
chữ “nhàn”. Đó là phương châm xử thế trước thời cuộc của các nhà Nho. Mục đích 
của kẻ sĩ là lựa chọn: gặp thời đem hết tài năng của mình ra giúp nước giúp dân, 
nhưng khi thất thời thì lui về ở ẩn sống cuộc đời thanh sạch. Nguyễn Bỉnh Khiêm 
sống trong thời loạn lạc, vua chúa tranh giành quyền bính, mọi quan hệ đạo đức bị 
đảo lộn, cho nên hầu hết cuộc đời ông là sống yên vui thanh tĩnh ở quê nhà. Ông có 
ra làm quan trong khoảng tám năm nhưng rồi tình thế rối ren đen bạc ông bèn cáo 
quan về ở ẩn, tự chọn cho mình cuộc sống an nhàn, gắn bó với đồng ruộng, sống 
cuộc đời thanh đạm miễn là dưỡng cho mình cái phong thái ung dung an nhiên tự 
tại. Ông vốn là người không màng danh lợi và ngại tranh đua, nên việc về với đồng 
ruộng là một sự tự nguyện. Là người nắm rõ quy luật thời thế, Nguyễn Bỉnh Khiêm 
tỏ ra rất điềm đạm ung dung. Đấy là mặt tích cực trong tư tưởng nhàn tản của 
Nguyễn Bỉnh Khiêm . Ông nói đến nhàn dật nhưng tâm huyết của ông lại dồn hết 
vào cuộc đời, lắng nghe từng bước đi ngoài cõi tục. Ông “nhàn thân” mà không 
“nhàn tâm”, nhàn mà vẫn canh cánh một niềm ưu ái với nước, với dân.
 Tuy vậy nhàn tản không phải bao giờ cũng là một thái độ tốt, một tư tưởng 
tích cực. Nếu chỉ biết vui với đạo trời, biết số mệnh, an phận thủ thường, trốn tránh 
hiện thực đen tối trước mắt, tìm một cuộc sống nhàn hạ cho bản thân thì liệu rồi ai 
sẽ là người đứng ra lo đời, chèo lái trụ cột cho đất nước, dẫn dắt muôn dân vươn tới 
cuộc sống thái bình no ấm? Bởi vậy bên cạnh những mặt tích cực chúng ta rất trân 
trọng và cần học hỏi thì cũng cần có cái nhìn đầy đủ hơn về những khía cạnh khác 
của những biểu hiện của chữ “nhàn”.
6. Học tập quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
 Ở mục này giáo viên sẽ cho các em thảo luận nhóm thông qua phát phiếu 
học tập cho HS rồi sau đó cử đại diện nhóm đứng lên trình bày. Sau đó tôi nhận xét 
và chốt lại vấn đề:
 Nhàn là một chủ đề lớn trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Những biểu hiện của 
chữ nhàn khá phong phú, đa dạng: rỗi nhàn, thân nhàn, phận nhàn, thanh 
nhànVới bài thơ “Nhàn” Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện triết lí sống: Hòa hợp 
 Trang 12

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_suy_ngam_ve_chu_nhan_va_quan_niem_song.doc